I. Tổng quan về Việt Nam
Thủ đô: Hà Nội
Vị trí địa lý : (đất liền)
Việt Nam nằm ở kinh độ từ 102o O9’ đến 109o 30’ Đông,
Vĩ độ : từ 8o10’ đến 23o24’ Bắc.
Diện tích đất liền là 331.689 km2
Khoảng cách (đường chim bay) giữa hai điểm cực nam và bắc là 1.650 km.
Khoảng cách Đông-Tây tối đa: 600 km (Bắc Bộ), 400 km (Nam Bộ); tối thiểu: 50 km (Quảng Bình, Trung Bộ).
Thủ đô là Thành phố Hà Nội, xưa còn gọi là Thăng Long (Rồng bay), có diện tích là : 921.000km2
Đơn vị hành chính: Gồm 64 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng)
Đặc điểm địa lý:
Địa hình Việt Nam có hình chữ S nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, giữa vùng Đông Nam á, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Đông và Nam giáp biển. Phần lớn diện tích lãnh thổ Việt Nam có địa hình đồi núi tập trung ở phía Bắc và phía Tây; các đồng bằng nằm chủ yếu ở phía Đông và phía Nam lãnh thổ. Vùng biển của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km2, bờ biển trải dài hơn 3000 km, nằm dọc biển Đông của Thái Bình Dương. Các vùng núi và biển này chứa nhiều nguồn tài nguyên và khoáng sản đa dạng phong phú.
Phía Tây Nam miền Trung Việt Nam là một cao nguyên rộng lớn ở độ cao trên 1000 m, bao phủ bởi lớp đất đỏ bazan, rất thích hợp với các cây công nghiệp vùng nhiệt đới và ôn hoà (cao su, chè, cà phê, ca cao...).
Dọc theo bờ biển Việt Nam, từ Bắc xuống Nam, có nhiều bãi biển đẹp, đặc biệt là Vịnh Hạ Long với hơn 3000 hòn đảo, được UNESCO công nhận là kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Việt Nam có nhiều khu rừng nguyên thuỷ còn chưa bị khai thác với nhiều loài động , thực vật quý và hiếm, nhiều vùng cao có khí hậu ôn hoà và phong cảnh độc đáo như Sa Pa, Đà Lạt... và vô số hồ, suối, thác và hang động độc đáo...
Các mỏ khoáng sản như than đá, sắt, bô-xít và kim loại hiếm tập trung chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung; trên thềm lục địa và các vùng ven biển có nhiều mỏ dầu và khí đốt. Sông, hồ và các vùng biển Việt Nam có nhiều cá tôm và các loại hải sản.
+ Núi, đồi: Núi và cao nguyên chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ. Hệ thống núi kéo dài từ biên giới Tây- Bắc đến phần đông của Nam Bộ, dài tổng cộng 1.400 km.
Đỉnh núi cao nhất: Fan Si Pan cao 3.143 m (10.312ft) trên mực nước biển
+ Đồng bằng:
Đồng bằng sông Hồng: 15.000 km2 được bồi đắp bởi phù sa của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình.
Đồng bằng sông Cửu Long: 40.000 km2 là vùng đất phì nhiêu, khí hậu thuận lợi. Đây là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam.
+ Sông ngòi: Việt Nam có hệ thống sông ngòi chằng chịt, cứ khoảng 20km lại có một cửa sông, vì thế rất thuận lợi cho giao thông đường thuỷ.
Những sông chính: Tổng chiều dài các con sông là 41.000 km với tổng lưu lượng gần 300 tỷ m3 nước và 3.100 km kênh rạch.
Sông Hồng dài 1.149 km trong đó 510 km chảy trên lãnh thổ Việt Nam.
Sông Mê kông (Cửu Long) dài 4.220 km trong đó 220 km chảy trên lãnh thổ Việt Nam.
Con người Việt Nam
Người Việt Nam có tinh thần yêu nước kiên cường, gắn bó với quê hương, xứ sở cụ thể là với làng và nước, với nhà, làm tế bào chung; ý thức sâu sắc và vững bền về bản ngã; tinh thần cố kết cộng đồng; cần cù, chịu thương chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ, tình nghĩa; ứng xử linh hoạt, mềm dẻo; dễ thích nghi, hội nhập…Mặt khác, do những điều kiện môi trường tự nhiên, khắc nghiệt, thất thường, điều kiện xã hội lắm chiến tranh cùng với những hạn chế của một nền sản xuất nông nghiệp (tiểu nông) truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, nên căn tính nông dân với những mặt tiêu cực của nó như tâm lý bình quân - cào bằng; tác phong tuỳ tiện; ăn xổi; tâm lý cầu an, cầu may; thủ cựu, gia trưởng…
Người Việt Nam có sức làm việc khó nhọc, nhất là người ở Miền Bắc thì ít dân tộc bì kịp, cảm giác hơi chậm chạp, song giỏi chịu đựng đau đớn, cực khổ và hay nhẫn nhục. Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí và hay thất vọng hay khoe khoang, trang hoàng bề ngoài. Người Việt Nam rất trọng lễ giáo song cũng có não tinh vặt, hay bài bác chế nhạo.